Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014

Bệnh tiểu đường, các biến chứng và cách điều trị.

Bệnh tiểu đường


Bệnh tiểu đường tuýp 1 là gì?

Bệnh tiểu đường tuýp 1 là bệnh lý mà người bệnh phụ thuộc vào insulin (bệnh tiểu đường tự miễn), có nghĩa là cơ thể tự tiêu diệt các tế bào sản xuất insulin của chính mình. Nói rõ hơn, bệnh tiểu đường tuýp 1 là do cơ chế tự miễn, tức tuyến tụy bị tấn công và phá hủy bởi chính cơ thể, làm cho cơ quan này không còn khả năng sản xuất insulin nữa. Kháng thể bất thường này được sản sinh ngay trong cơ thể người bệnh tiểu đường tuyp 1, một phần trong hệ thống miễn dịch của cơ thể. Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh như người bệnh tiếp xúc, nhiễm một số virus như quai bị, Coxakies virus hay các độc chất trong môi trường có thể khởi phát đáp ứng kháng thể một cách bất thường, là nguyên nhân làm hư tổn tế bào tụy tiết ra insulin.

Bệnh tiểu đường tuýp 2 là gì?


Bệnh tiểu đường tuýp 2 về cơ bản là bệnh lý mà khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc khi cơ thể tự kháng với insulin được sản xuất. Có rất nhiều các nguyên nhân khác nhau gây nên bệnh lý này. Một trong những nguyên nhân phổ biến là do: Béo phì, ăn quá nhiều chất béo, ngồi làm việc quá nhiều, uống nhiều bia rượu, người cao tuổi, người có tiền sử rối loạn dung nạp glucose…

Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh tiểu đường có thể gây ra những biến chứng rất nguy hiểm như: Giảm khả năng chăn gối, suy thận cấp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, mù mắt, hoại tử… Ngoài ra bệnh nhân còn cảm thấy tù túng vì chế độ ăn uống khắt khe, sinh hoạt gò bó, và đối với bệnh nhân đái tháo đường tuýp 1 cảm thấy bất lực vì cuộc sống của họ hàng ngày phải phụ thuộc vào những mũi tiên Insulin.

**********

Các triệu chứng của bệnh tiểu đường tuýp 1

Các triệu chứng của bệnh tiểu đường tuýp 1 thường phát triển nhanh chóng trong một vài ngày đến vài tuần do lượng đường trong máu cao. Lúc đầu, các triệu chứng có thể bị bỏ qua hoặc nhầm với bệnh khác như bệnh cúm.

Ngay cả trước khi bạn nhận thấy các triệu chứng, lượng đường trong máu cao có thể đã làm hỏng các bộ phận của cơ thể. Đó là lý do tại sao nên xét nghiệm bệnh tiểu đường định kỳ để kiểm tra kiểm soát lượng đường trong máu. Nhưng nhiều bệnh nhân không nhận được kiểm tra bệnh tiểu đường ít nhất mỗi năm một lần, chẳng hạn như thử nghiệm HbA1c, khám mắt v.v.
Các triệu chứng đường huyết cao bao gồm:

• Đi tiểu nhiều, có thể nhiều hơn vào ban đêm do thận đang cố gắng để đào thải lượng đường dư thừa trong máu.

• Bạn luôn cảm thấy khát nước.

• Bạn bị giảm cân mà không phải do tập luyện hoặc áp dụng chế độ ăn kiêng nào khác.

• Hay đói. Bạn cảm thấy đói vì cơ thể bạn không được hấp thụ hết năng lượng từ tinh bột. Một phần năng lượng bị đưa ra ngoài cơ thể trong nước tiểu.

• Tầm nhìn bị mờ. Khi lượng đường tích tụ trong mắt của bạn, nó hút nước thêm vào mắt của bạn. Điều này thay đổi hình dạng của nhãn cầu và làm mờ tầm nhìn của bạn.

• Cảm thấy rất mệt mỏi. Bạn cảm thấy mệt mỏi với cùng lý do bạn cảm thấy đói. Cơ thể của bạn không tận dụng hết lượng calories mà bạn đã ăn nên không nhận được đủ năng lượng cần thiết.
Xem thêm về các triệu chứng của đường huyết trong máu cao.

Các triệu chứng của nhiễm toan ceton tiểu đường là:

  • Ửng, nóng, khô da.
  • Chán ăn, đau bụng và nôn mửa.
  • Hơi thở có mùi trái cây.
  • Thở sâu và nhanh.
  • Bồn chồn, buồn ngủ, khó thức dậy, nhầm lẫn, hoặc hôn mê.
Các triệu chứng phổ biến của đường huyết trong máu thấp thấp bao gồm:
  • Ra mồ hôi.
  • Run rẩy.
  • Ốm yếu.
  • Đói.
  • Lẫn lộn.

Bạn có thể ngất khi lượng đường trong máu của bạn quá thấp.

Xem thêm về các triệu chứng của hạ đường huyết.

Bạn có thể có những triệu chứng trên khi lượng đường trong máu giảm xuống dưới 70 miligam mỗi decilít (mg / dL). Khi bạn đã bị tiểu đường nhiều năm, bạn có thể không phát hiện ra các triệu chứng của hạ đường huyết nhẹ.

Một số trẻ em bị bệnh tiểu đường không thể nhận ra các triệu chứng của hạ đường huyết. Những người khác có thể, nhưng không phải tất cả thời gian. Để an toàn, các bậc cha mẹ cần phải làm một bài kiểm tra lượng đường trong máu nhà bất cứ khi nào họ nghi ngờ hạ đường huyết ở trẻ em.

Các triệu chứng có thể bao gồm:
  • Đổ mồ hôi (hầu như luôn luôn có).
  • Căng thẳng, run rẩy và yếu.
  • Đói và buồn nôn nhẹ.
  • Chóng mặt và đau đầu.
  • Mờ mắt.
  • Tim đập nhanh và cảm giác lo lắng.

Những triệu chứng này có thể biến mất ngay sau khi bạn ăn thức ăn có chứa đường.
Nếu lượng đường trong máu của bạn tiếp tục giảm (dưới 40 mg / dL), hành vi của bạn có thể thay đổi. Các triệu chứng có thể bao gồm:
  • Không có khả năng tập trung.
  • Nhầm lẫn và khó chịu.
  • Nói lắp.
  • Đứng không vững khi đứng hoặc đi bộ.
  • Bắp thịt co quắp.
  • Thay đổi tính cách, chẳng hạn như sự tức giận hoặc khóc.
Các triệu chứng của hạ đường huyết nghiêm trọng (thường là dưới 20 mg / dL) bao gồm:
  • Co giật.
  • Mất ý thức (hôn mê).
  • Đột quỵ.
  • Tử vong.

Các dấu hiệu của hạ đường huyết vào ban đêm

Nếu lượng đường trong máu của bạn giảm xuống trong khi bạn đang ngủ, các thành viên khác trong gia đình có thể nhận thấy rằng bạn đang đổ mồ hôi và hành xử khác nhau. Các dấu hiệu của hạ đường huyết vào ban đêm (hạ đường huyết vào ban đêm) bao gồm:
  • Bồn chồn.
  • Tạo ra tiếng động bất thường.
  • Cố gắng để được ra khỏi giường hoặc vô tình lăn ra khỏi giường.
  • Mộng du.
  • Cơn ác mộng.
  • Đổ mồ hôi.

Bạn có thể thức dậy với một cơn đau đầu vào buổi sáng nếu lượng đường trong máu thấp vào ban đêm.

Nếu bạn không thể biết được lượng đường trong máu của bạn quá thấp (hạ đường huyết bất giác), tốt nhất bạn nên kiểm tra lượng đường trong máu của bạn thường xuyên.
Yếu tố nguy cơ làm tăng và hạ lượng đường trong máu:

• Tuổi: Thanh thiếu niên có nguy cơ lượng đường trong máu cao, có thể dẫn đến hiện tượng ketoacidosis (nhiễm độc Xê tôn). Thanh thiếu niên thường quan tâm đến trọng lượng của họ và hình ảnh cơ thể, và họ có thể giảm ăn tinh bột để giảm cân dẫn đến cơ thể giảm tiết insuline.

• Kiểm soát đường huyết chặt chẽ: Kiểm soát chặt chẽ lượng đường trong máu giúp ngăn ngừa các biến chứng, chẳng hạn như mắt, thận, tim, mạch máu, và bệnh thần kinh.... Nhưng nó đặt bạn vào nguy cơ làm cho lượng đường trong máu thường xuyên thấp.

• Tuổi vị thành niên: Các kỳ tăng trưởng nhanh chóng và thay đổi mức độ hormone của tuổi vị thành niên có thể làm cho cơ thể gặp khó khăn để giữ cho lượng đường trong máu ổn định.

• Điều kiện tinh thần: Rối loạn ăn uống, trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn hoảng sợ, nghiện rượu hoặc ma túy làm tăng nguy cơ lượng đường trong máu thường xuyên cao hoặc thấp.

CÁC BIẾN CHỨNG CỦA TIỂU ĐƯỜNG

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức
8748 E. Valley Blvd.
Rosemead, CA 91770
(626) 288-3306
Biểu hiện của bệnh tiểu đường
Trước đây, chúng ta đã có dịp bàn luận về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh tiểu đường, cùng cách truy tìm căn bệnh. Hôm nay, chúng ta trò chuyện tiếp về các biến chứng (complications) hay xảy ra khi bị tiểu đường.
 Tiểu đường có thể gây nhiều biến chứng lắm. Có biến chứng cấp thời, đe dọa tính mạng ngay bây giờ, có những biến chứng xa, làm giảm tuổi thọ, làm ta thấy đời kém vui.. Bệnh xảy ra càng sớm, càng gây nhiều biến chứng.
Chúng ta đã biết, tiểu đường có 2 loại: loại 1 xảy ra sớm, trước tuổi 40, do thiếu chất insulin trong cơ thể, loại 2 thường xảy ra muộn hơn, sau tuổi 40, do các tế bào không sử dụng được chất insulin, dù insulin có sẵn đấy. Tiểu đường loại 1 gây nhiều biến chứng hơn loại 2. 
Chúng ta sẽ lần lượt đi qua những biến chứng của tiểu đường.
Biến chứng cấp thời
1. Hôn mê do đường máu lên quá cao:
 Đường trong máu lên cao quá có thể gây hôn mê, nguy đến tính mạng.
Hôn mê do đường máu quá cao hay xảy ra ở người bị tiểu đường loại 1, khi họ quên chích insulin. Hôn mê có khi cũng xảy ra khi người bệnh gặp những căng thẳng về tinh thần (buồn bực, âu lo) hay thể chất (bị bệnh nhiễm trùng, sau khi giải phẫu, ...), dù vẫn đang dùng thuốc chích insulin đều mỗi ngày. Hôn mê do đường máu lên quá cao được báo hiệu bằng các triệu chứng tiêu hóa: ăn không ngon miệng, buồn nôn, ói mửa, đau bụng, đi tiểu nhiều. Người bệnh cần được nhập viện ngay để chữa trị, nếu không, sẽ đâm mất sáng suốt rồi đi dần vào hôm mê. Khi thử máu, thường thấy đường máu cao đến 500 mg/dl.
Người bị tiểu đường loại 2 cũng có khi bị hôn mê khi đường máu lên quá cao (thường 1.000 mg/dl), tuy theo một cơ chế khác.
2. Hôn mê do đường máu xuống quá thấp:
Đường máu xuống quá thấp cũng gây hôn mê. Đường xuống thấp do ta dùng thuốc, nhưng có hôm vui quá, quên cả ăn, hoặc có hôm hăng quá, vận động hơi nhiều. Có khi đường xuống thấp chẳng vì lý do nào rõ rệt.
Biến chứng của tiểu đường như hạ đường huyết Nếu đường xuống thấp ban ngày, ta thấy đói lắm, đến toát mồ hôi, run cả tay chân, nóng nảy, nổi quạu. Đường xuống thấp ban đêm, có khi không gây triệu chứng, có khi khiến ta gặp ác mộng, toát mồ hôi, hoặc bị nhức đầu buổi sáng lúc mới thức. Rủi đường xuống thấp thêm nữa, đầu óc ta bắt đầu mất sáng suốt, có những hành vi khác thường, và rồi hôn mê, hoặc giật kinh phong.
Sự chữa trị cần khẩn cấp. Không khó. Nếu còn tỉnh, hãy dùng ngay bất cứ thứ gì có đường: kẹo, các thức uống ngọt. Nếu không còn tỉnh, trong môi trường nhà thương, bác sĩ sẽ truyền ngay vào tĩnh mạch cho ta một ống thuốc chứa nước đường. Chỉ vài phút sau, ta lại mở mắt, vui vẻ chuyện trò với bác sĩ. Cũng nên trữ sẵn ở nhà thuốc chích glucagon. Khi chưa kịp gọi 911, một mũi thuốc chích glucagon 1 mg thường rất được việc, giúp ta qua cơn nguy khốn (glucagon là chất có tác dụng ngược với insulin, làm đường tăng cao trong máu).
Các biến chứng xa
Có người may mắn không bao giờ bị những biến chứng xa, về lâu về dài của tiểu đường, ngược lại có người bị, và bị nhiều biến chứng cùng lúc. Nói chung, các biến chứng thường xảy ra 15-20 năm sau khi bệnh định ra.
1. Các biến chứng tim mạch:
Tiểu đường hay làm hư hoại các mạch máu, đưa đến bệnh ở nhiều cơ quan khác nhau. Nếu bệnh làm hư hoại các mạch máu ngoại biên dẫn máu đến nuôi chân, các mạch máu này tắc nghẽn, gây chứng đau các bắp thịt chân khi đi đứng, chứng hoại thư (gangrene) bàn chân. Nếu bệnh làm hỏng mạch máu dẫn máu đến cơ quan sinh dục, bệnh gây chứng bất lực ở đàn ông.
Biến chứng của tiểu đườngHậu quả hẹp tắc các động mạch tim (coronary artery disease) và tai biến mạch máu não (stroke) cũng hay xảy ra. Bệnh hẹp tắc các động mạch dẫn máu đến nuôi tim có thể đưa đến chết cơ tim cấp tính (hay được gọi nôm na “heart attack”). Thường chết cơ tim cấp tính gây đau ngực dữ dội, song, người tiểu đường có khi không cảm thấy đau vì những thần kinh dẫn truyền cảm giác từ tim cũng đã hư hoại mất rồi. Sự định bệnh chết cơ tim cấp tính ở người tiểu đường khó khăn hơn ở người không mang bệnh tiểu đường. Tiểu đường còn có thể làm sưng cơ tim, gây suy tim.
Bạn biết rồi, thuốc lá, cao áp-huyết cũng gây bệnh hẹp tắc động mạch tim. Thuốc lá làm nghẽn luôn các mạch máu ngoại biên. Người tiểu đường, đã có sẵn những hư hoại gây do tiểu đường, tuyệt đối nên giã từ thuốc lá. Nếu người tiểu đường cũng có cao áp huyết, để cứu vãn mọi sự, việc chữa trị bệnh cao áp-huyết cần sớm và mạnh. Tiểu đường và cao áp huyết lại hay đi đôi với nhau. Thuốc chữa cao áp huyết nhiều loại. Có loại làm đường cao thêm trong máu, do ngăn cản sự tiết insulin từ tụy tạng. Có loại làm mỡ trong máu (cholesterol, triglycerides) lên cao. Thường bác sĩ sẽ tránh dùng những loại thuốc này cho bạn, nếu bạn vừa cao áp huyết, vừa bị tiểu đường.
2. Biến chứng ở mắt:
biến chứng của tiểu đường
Mắt giống một máy ảnh, giúp ta nhìn thấy các hình ảnh của thế giới bên ngoài. Trong mắt có một màng lót nằm ở phía sau gọi là võng mạc (retina), hoạt động như phim của máy ảnh. Võng mạc nối liền với thần kinh thị giác. Các hình ảnh khi vào mắt, chiếu lên võng mạc. Võng mạc thu nhận các hình ảnh, và thần kinh thị giác biến những hình ảnh này thành những tín hiệu truyền về óc. Nếu phim trong máy ảnh xấu, hư, ảnh rửa ra tất nhòa, không rõ. Tương tự như vậy, nếu võng mạc bị hư hoại, các hình ảnh thu nhận trên võng mạc bị mờ. Thần kinh thị giác dù tốt, cũng chỉ trung thực truyền những tín hiệu mờ trên võng mạch về óc, và kết quả là ta không nhìn thấy rõ. Khi võng mạc hư hoại nhiều quá, ta bị mù. Ở Mỹ, xứ không có chiến tranh và ít các bệnh nhiễm trùng mắt nguy hiểm, tiểu đường là nguyên nhân dẫn đầu gây mù lòa. Khám đáy mắt có thể thấy những tổn thương do tiểu đường gây trên võng mạc.
Biến chứng hư hoại võng mạc mắt tùy thuộc vào tuổi của người bệnh lúc mới bị tiểu đường, cũng như thời gian mang bệnh. Càng sớm bị, thời gian mang bệnh càng lâu, càng nguy. Khoảng 85% người tiểu đường sau sẽ có biến chứng tổn thương võng mạc. Những người còn lại may mắn không bao giờ bị tổn thương võng mạc. Tổn thương võng mạc do tiểu đường có cách chữa: bắn tia Laser đốt những vết thương trên võng mạc (photocoagulation). Bị tiểu đường, nên đi khám bác sĩ mắt hàng năm.
Ngoài sự hư hoại võng mạc, tiểu đường còn gây bệnh tăng áp suất trong mắt (glaucoma), đục thủy tinh thể (cataract). Dù các biến chứng vừa kể không xảy ra, khi đường lên cao, mắt cũng hay mờ. Mang bệnh tiểu đường, và tự nhiên thấy mắt kém đi, nhìn một thành hai, mắt lúc tỏ lúc lu, thấy những điểm lờ mờ trôi lờ lững trước mắt (floating spots), hoặc đau trong ổ mắt, bạn nhớ cho bác sĩ biết.
3. Biến chứng suy thận:
Biến chứng của tiểu đường gây suy thậnỞ Mỹ, khoảng nửa số người suy thận là do tiểu đường. Suy thận là nguyên nhân dẫn đầu gây tử vong và tàn tật cho những vị bị tiểu đường.
  biến chứng của tiểu đường
Suy thận thường xảy ra 12 năm sau khi tiểu đường bắt đầu xuất hiện. Bệnh thận càng tiến triển mau lẹ nếu có cao áp huyết đi cùng. Suy thận ở giai đoạn cuối cần lọc thận hay thay thận. Chữa trị tiểu đường cẩn thận có thể làm chậm tiến triển của suy thận. Bị thêm cao áp huyết, cao áp huyết cần được kiểm soát chặt chẽ. Một số thuốc chữa cao áp huyết có thêm tác dụng làm giảm sự tiến triển của bệnh thận gây do tiểu đường.
Nhiễm trùng đường tiểu (urinary tract infection) làm thận người tiểu đường suy nhanh hơn, nên nếu xảy ra, cần được chữa trị tới nơi tới chốn. Một vấn đề nữa: các thuốc có thể hại cho thận, như những thuốc chống đau nhức Advil, Ibuprofen, Motrin, Naprosyn, ..., nên tránh dùng nếu không thực sự cần thiết.
4. Các tổn thương ở hệ thần kinh:
Biến chứng của tiểu đường
Tiểu đường còn làm thương tổn hệ thần kinh ở khắp nơi trong cơ thể, có lẽ chỉ trừ trên óc. Các tổn thương tuy không thực sự nguy hiểm, nhưng khiến ta khó chịu:
- Khi các thần kinh nhỏ ở tay, chân tổn thương, sẽ gây tê, đau ở tay hay chân, thường là cả hai bên. Cái đau như điện giật, cảm thấy sâu trong xương, nặng hơn về đêm.
Sự chữa đau không dễ. Đầu tiên, ta nỗ lực đưa đường máu xuống mức bình thường. Nếu không ăn thua, loại thuốc trị bệnh sầu buồn như Elavil, hoặc thuốc Tegretol (dùng chữa bệnh kinh giật) được thử để làm giảm đau. Những thuốc này có tác dụng xoa dịu những cái đau gây do thần kinh. Thuốc thoa Bengaz chẳng ăn thua gì, nhưng kem thoa có tên Capsaicin (mua không cần toa bác sĩ) các bác sĩ lại cho rằng tốt. Với những cơn đau dữ dội, có khi phải cần đến thuốc giảm đau mạnh chứa chất nha phiến như codeine.
Người tiểu đường cũng có thể bất ngờ liệt bàn chân, bàn tay, không nhấc bàn chân, bàn tay lên được, hoặc mắt tự nhiên lé. Những biến chứng này từ từ sẽ bớt. 
- Khi các thần kinh tự động (autonomic nervous system) điều khiển sự hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể bị tổn thương, nhiều triệu chứng xảy ra. Thường nhất là các triệu chứng tiêu hoá: khó nuốt, đầy hơi sau khi ăn, bón hoặc tiêu chảy. Tiêu chảy hay xảy ra về đêm, ảnh hưởng đến giấc ngủ. May thay, các thuốc cầm tiêu chảy thường dùng có thể kiểm soát được tiêu chảy do tiểu đường. Với tiểu đường, bệnh dội ngược bao tử - thực quản (gastro-esophageal reflux, các thức trong bao tử dội ngược lên thực quản sau khi ăn) cũng hay xảy ra.
Bình thường, khi ta đứng lên ngồi xuống, hệ thần kinh tự động nhanh chóng điều chỉnh hệ thống tim mạch, để áp huyết luôn ở trạng thái cân bằng, và lúc nào cũng có đủ máu lên óc ta. Khi hệ thần kinh tự động đã hư hoại vì tiểu đường, cơ chế điều chỉnh áp huyết bị xáo trộn. Đang nằm hoặc ngồi mà đột ngột đứng lên, áp huyết hay bất ngờ hạ thấp, khiến người bệnh thấy chóng mặt, có khi ngất xỉu. Trường hợp này, người bệnh được khuyên nằm ngủ với đầu giường nâng cao (bằng cách chèn gỗ hoặc vật cứng dưới đầu giường). Người bệnh cũng nên tránh đứng bật dậy buổi sáng lúc mới thức. Ngược lại, nên ngồi dậy chầm chậm, và ngồi ở cạnh giường một lát trước khi đi lại. Các vớ chân đặc biệt (giúp máu từ chân về tim nhiều hơn) cũng giúp làm giảm triệu chứng. Khi hệ thần kinh tự động hư hoại, bọng đái hay làm việc bất thường, gây khó tiểu hoặc không kiểm soát được nước tiểu. Đàn ông thường ghét bệnh tiểu đường hơn phụ nữ, vì sự tổn thương các dây thần kinh tự động do tiểu đường còn khiến dương vật không thể cương cứng, gây bệnh bất lực.
5. Các vết loét và nhiễm trùng ở chân:
 Một trong những biến chứng quan trọng khác của tiểu đường là những vết loét ở chân và bàn chân. Tiểu đường làm hư hoại các dây thần kinh cảm giác ngoại biên, nên chân người tiểu đường ít, hoặc không cảm thấy đau khi bị vật lạ đâm vào. Chân dễ thương tổn, do người bệnh không cảm thấy đau nên không để ý, tìm cách tránh né các vật làm hại. Giầy không vừa chân cũng hay làm bỏng phồng, trầy lở da chân, gây các vết loét. Phần khác, như ta đã biết, tiểu đường làm hỏng các mạch máu ngoại biên dẫn máu đến nuôi chân và bàn chân. Các vết loét vì thế lâu lành và hay bị nhiễm trùng. Nhiễm trùng nếu nặng, có thể đưa đến cưa bàn chân hay chân.
Những phương cách sau được xem là hữu hiệu để ngừa các vết loét và nhiễm trùng bàn chân khi bị tiểu đường: mỗi ngày bạn nên tự thăm khám chân, bàn chân và để ý những dấu chứng:
- Sưng, đỏ, đau, có mủ, có đường đỏ chạy dài từ bàn chân lên chân.
- Các chỗ da chai cứng (corns, calluses): da dưới những chỗ này hay bị thương tổn.
- Móng chân dài quá, cần cắt ngắn bớt.
- Những vùng đau ở chân gây do giầy chật. Những vùng hay bị sót, thường không được để ý kỹ là vùng gót chân và giữa các ngón chân.
Nếu mắt bạn kém, nhìn không rõ, bạn có thể nhờ người nhà xem xét bàn chân hộ. Đồng thời, nhờ bác sĩ khám chân cho bạn ít nhất mỗi năm 1 lần.
Mỗi ngày bạn rửa chân với xà-bông nhẹ và nước ấm, sau đó dùng lotion chống khô da (moisturizing lotion) thoa chân giúp da chân khỏi khô (da khô dễ tổn thương và nhiễm trùng). Bạn tránh dùng nước nóng, và nhớ dùng tay thử trước, xem nước nóng đến mức độ nào trước khi nhúng chân vào bồn tắm. Đừng đi chân đất bạn ạ, dù ở nhà, và nên đi giầy thật vừa vặn hầu tránh bị trầy lở chân, hoặc có những chỗ chai cứng (corns, calluses) gây do giầy. Bạn nhớ bỏ giầy ra ít nhất 1 lần mỗi ngày. Khi mang giầy mới, những ngày đầu, bạn chỉ nên mang giầy tối đa 1 tiếng mỗi ngày để khỏi phồng da chân. Có nhiều loại giầy được chế tạo đặc biệt để bảo vệ chân, tốt cho chân của người tiểu đường. Nếu không, bạn có thể dùng các giầy thể thao cũng tốt. Trước khi xỏ chân vào giầy, bạn nhớ xem xét cẩn thận, tìm các vật lạ trong giầy có thể làm thương tổn chân bạn. Vớ nên thay mỗi ngày. Dùng những loại vớ đặc biệt giúp tránh phồng da (antiblister socks) càng thêm tốt. Khi cắt móng chân, bạn nên cắt ngang các móng chân, thay vì cắt vanh tròn. Cắt vanh tròn theo ngón chân dễ phạm phải thịt. Bạn cũng nên đi khám podiatrist (chuyên viên săn sóc bàn chân) đều đặn. Podiatrist giúp cắt bỏ các chỗ da bàn chân dầy cứng, những móng chân mọc bất thường, đâm sâu vào thịt (ingrown toenails).
6. Các biến chứng nhiễm trùng khác:
 Biến chứng của tiểu đườngNgoài những nhiễm trùng ở chân, người tiểu đường cũng dễ bị nhiễm trùng ở những nơi khác trong cơ thể, vì sức kháng cự của cơ thể giảm. Một vài bệnh nhiễm trùng, do vi trùng hay nấm, ít xảy ra ở người bình thường, lại hay xảy ra nơi người tiểu đường. Chẳng hạn, bệnh lao, bệnh nấm âm đạo (gây ngứa âm đạo), bệnh viêm tai ngoài rất nguy hiểm do vi trùng Pseudomonas.
Như ta thấy, bệnh tiểu đường đưa đến nhiều biến chứng quan trọng. Sự chữa trị ngoài mục đích làm giảm các triệu chứng do tiểu đường gây ra (mệt mỏi, xuống cân, tiểu nhiều, tiểu đêm, khát nước, ...), còn nhắm ngăn ngừa các biến chứng.
Biến chứng của tiểu đường


Các loại insulin để điều trị bệnh tiểu đường

Insulin đối với người tiểu đường
Có nhiều hình thức của insulin để điều trị bệnh tiểu đường. Chúng được phân loại theo cách thức điều trị, giai đoạn của bệnh, thời gian thuốc có hiệu lực…
Các loại insulin bao gồm:
• Tác dụng nhanh
• Tác dụng ngắn
• Tác dụng mức trung bình
• Tác dụng trong lâu dài
• Dạng hỗn hợp
Đánh giá bản thân: bạn có phải là bệnh tiểu đường loại 1 có thể kiểm soát?
Loại gì của Insulin là tốt nhất cho tôi tiểu đường?
Bác sĩ sẽ làm việc với bạn để định loại insulin đó là tốt nhất cho bạn và bệnh tiểu đường. Quyết định loại insulin có thể là tốt nhất cho bạn sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm:
• Phản ứng cá nhân của cơ thể của bạn với insulin (phải mất bao lâu insulin được hấp thụ trong cơ thể và duy trì hoạt động trong cơ thể được bao lâu).
• Lựa chọn lối sống riêng của bạn – ví dụ, các loại thực phẩm bạn ăn, bao nhiêu rượu bạn cố thể uống, hoặc tập thể dục thế nào cho phù hợp với bạn… – là những yếu tố ảnh hưởng đến chế biến của cơ thể insulin.
• Cơ thể bạn có sẵn sàng để tiếp thu nhiều mũi tiêm mỗi ngày.
• Bạn có sẵn sàng để kiểm tra lượng đường trong máu của bạn.
• Tuổi của bạn.
• Mục tiêu quản lý lượng đường trong máu của bạn.
Một liều insulin tác động nhanh hiện nay được FDA phê chuẩn để sử dụng trước bữa ăn cho bệnh tiểu đường loại 1 và loại 2. Loại này có tác dụng nhất trong máu sau khoảng 15-20 phút, các nhà nghiên cứu nói, và hết tác dụng sau 2-3 giờ. Nên Afrezza phải được sử dụng kết hợp với Insulin có tác dụng lâu dài ở bệnh nhân tiểu đường loại 1.
Bảng dưới đây liệt kê các loại insulin tiêm với các chi tiết về khởi đầu (chiều dài của thời gian trước khi đạt đến insulin trong máu và bắt đầu hạ thấp lượng đường trong máu), cao điểm (khoảng thời gian khi insulin là hiệu quả nhất trong việc làm giảm lượng đường trong máu) và thời gian (bao lâu insulin tiếp tục hạ thấp lượng đường trong máu). Ba yếu tố này có thể thay đổi, tùy thuộc vào phản ứng của cơ thể. Cột cuối cùng cung cấp một số hiểu biết về “bảo hiểm” được cung cấp bởi các loại insulin khác nhau liên quan đến bữa ăn.
Các loại insulin
Khởi phát
Đỉnh
Thời gian
Vai trò trong quản lý đường huyết
Tác dụng nhanh
Humalog hoặc lispro15-30 phút30-90 phút3-5 giờRapid-insulin tác dụng bao gồm nhu cầu insulin cho các bữa ăn, ăn cùng một lúc với tiêm. Đây là loại insulin thường được dùng với insulin tác dụng dài.
Novolog hoặc aspart10-20 phút40-50 phút3-5 giờ
Apidra hoặc glulisine20-30 phút30-90 phút1-2½ giờ
Tác dụng ngắn
Regular (R) humulin hoặc novolin30 phút2-5 giờ5-8 giờInsulin tác dụng ngắn bao gồm nhu cầu insulin ăn cho các bữa ăn trong vòng 30-60 phút
Velosulin (để sử dụng trong các máy bơm insulin)30 phút -1 giờ2-3 giờ2-3 giờ
Tác dụng trung bình
NPH (N)1-2 giờ4-12 giờ18-24 giờInsulin tác dụng trung bình bao gồm nhu cầu insulin trong khoảng nửa ngày hoặc qua đêm. Đây là loại insulin thường được kết hợp với insulin nhanh – hoặc ngắn.
Tác dụng trong lâu dài
Inslin tác dụng trong lâu dài bao gồm nhu cầu insulin trong khoảng một ngày đầy đủ. Đây là loại insulin thường được kết hợp (khi cần thiết) với insulin rapid- hoặc ngắn.
Lantus (insulin glargine)1-1½ giờKhông có thời gian cao điểm; insulin được cung cấp ở mức độ ổn định 20-24 giờ
Levemir (insulin detemir)1-2 giờ6-8 giờLên đến 24 giờ
Dạng hỗn hợp
Humulin 70/3030 phút2-4 giờ14-24 giờNhững sản phẩm này thường được thực hiện hai hoặc ba lần một ngày trước bữa ăn.
Novolin 70/3030 phút2-12 giờUp to 24 giờ
Novolog 70/3010-20 phút1-4 giờUp to 24 giờ
Humulin 50/5030 phút2-5 giờ18-24 giờ
Humalog mix 75/2515 phút30 phút -2½ giờ16-20 giờ
* Insulin hỗ hợp là một sự kết hợp của tỷ lệ cụ thể của Insulin ngắn và trung bình (các số sau tên từng loại là tỷ lệ phần trăm của từng loại insulin).

**********

Nguyên nhân của bệnh tiểu đường tuýp I
Bệnh tiểu đường tuýp 1 phát triển bởi vì hệ thống miễn dịch của cơ thể phá hủy các tế bào beta trong tuyến tụy được gọi là mô cù lao. Chính là các tế bào beta sản sinh ra insulin. Vì vậy, những người có bệnh tiểu đường loại 1 không thể sản xuất insulin của chính họ.
Tuyến tụy thường điều chỉnh lượng insulin dựa trên sự thay đổi của lượng đường trong máu của bạn. Khi bạn bị tiểu đường, tiêm insulin cũng không giúp bạn có thể kiểm soát lượng đường trong máu một cách thường xuyên như cách tuyến tụy đã làm cho bạn. Vì vậy, bạn có thể có lượng đường trong máu cao và thấp theo thời gian.
Ăn uống quá nhiều gây tiểu đường
Nguyên nhân của lượng đường trong máu cao bao gồm:
• Không đủ insulin.
• Ăn thức ăn nhiều hơn bình thường.
• Căng thẳng và bị bệnh tật (ví dụ như bệnh cúm nặng) hoặc có nhiễm trùng, đặc biệt là nếu bạn không ăn hoặc uống đủ.
• Dùng thuốc có thể làm tăng lượng đường trong máu, chẳng hạn như đối với giấc ngủ, một số thuốc thông mũi, và corticosteroid (như prednisone).
• Hiện tượng bình minh hoặc còn gọi là hiệu ứng Somogyi, có thể gây buổi sáng sớm đường trong máu cao.
• Tuổi vị thành niên, do những thay đổi nội tiết tố và tăng trưởng nhanh chóng.
• Mang thai.
Hiện tượng tiểu đường ketoacidosis:
Đôi khi lượng đường trong máu của một người tăng lên rất nhiều trước khi họ biết cơ thể họ đã có điều bất thường. Vì insulin không có sẵn, các tế bào trong cơ thể không thể có được những đường (glucose) cần thiết cho năng lượng. Cơ thể bắt đầu phá vỡ chất béo và cơ bắp cho năng lượng.
Khi chất béo được sử dụng cho năng lượng, xeton hoặc axit béo được sản xuất và đi vào máu. Điều này gây ra sự mất cân bằng hóa chất và gây ra hiện tượng ketoacidosis. Đây là một tình trạng đe dọa tính mạng.

Nguyên nhân của lượng đường trong máu thấp bao gồm:

• Dùng quá nhiều insulin.
• Bỏ qua hoặc trì hoãn một bữa ăn hoặc ăn vặt.
• Tập thể dục nhiều hơn bình thường mà không ăn đủ thức ăn.
• Uống quá nhiều rượu, đặc biệt là trên một dạ dày trống rỗng.
• Dùng thuốc có thể làm giảm lượng đường trong máu, chẳng hạn như số lượng lớn các loại thuốc aspirinand cho rối loạn tâm thần.
• Bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt của bạn, bởi vì thay đổi hoóc môn có thể ảnh hưởng đến cách insulin cũng làm việc. 

**********

Bạn cảm nhận thế nào khi biết mình bị tiểu đường?

Những người khác nhau có những cảm xúc khác nhau về việc bệnh tiểu đường tuýp 2.
Một số phản ứng thông thường là:
• Một cảm giác mất mát
• Sợ hãi
• Căng thẳng
• Giận dữ
• Sốc
• Tội lỗi
• Sự hoài nghi và không muốn nghĩ về nó.

Nó có phải là vấn đề lớn?

Những điều cần ghi nhớ là tất cả những cảm giác này là hoàn toàn bình thường.
Chúng tôi thấy rằng, khi bạn biết mìn bị bệnh tiểu đường thì đó là một vấn đề lớn. Và ngay cả khi bây giờ bạn đang làm rất tốt với nó. Có thể có những khoảnh khắc mà bạn cảm thấy tồi tệ về những gì đã xảy ra với bạn.

Hãy trò chuyện để giải tỏa tâm lý của bạn:

Đó là một ý tưởng tuyệt vời để nói chuyện với gia đình, bạn bè, hoặc bác sĩ của bạn về cách bạn đang cảm thấy. Đôi khi chỉ cần nói ra suy nghĩ của mình sẽ giúp cho bạn cảm thấy dễ dàng hơn khi nghĩ về nó.
Những người khác có thể giúp bạn nhìn thấy mặt tích cực của sự vật, hoặc tìm ra cách để giảm căng thẳng.
TIP: Hãy hỏi đội ngũ chăm sóc bệnh tiểu đường của bạn để được giúp đỡ nếu cảm xúc của bạn đang áp đảo bạn hoặc ảnh hưởng đến cách bạn chăm sóc bản thân.

**********

Kế hoạch giảm cân cho người tiểu đường

Bác sĩ chăm sóc bệnh tiểu đường của bạn có thể đề nghị bạn cố gắng giảm cân. Vì giảm cân có thể cải thiện lượng đường trong máu, huyết áp và cholesterol.
Bạn không cần phải giảm nhiều trọng lượng mới thấy kết quả. Chỉ cần mất 4-6 kg có thể tạo sự khác biệt.
Có rất nhiều kế hoạch giảm cân để lựa chọn. Thậm chí chỉ cần sử dụng phương “ bữa ăn” cũng có thể giúp bạn giảm cân.
Nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc giảm cân, hãy nói chuyện với bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng.
Tham khảo them về Giảm cân: http://www.diabetes.org/food-and-fitness/weight-loss/
Tập thể dục
Tập thể dục tốt cho người tiểu đường
Tập thể dục hoặc hoạt động thể chất, bao gồm bất cứ điều gì giúp bạn di chuyển, chẳng hạn như đi bộ, khiêu vũ, hoặc làm việc trong sân. Hoạt động thể chất thường xuyên là rất quan trọng cho tất cả mọi người, nhưng nó đặc biệt quan trọng cho những người có bệnh tiểu đường và những người có nguy cơ bị bệnh tiểu đường.
Điều đó không có nghĩa là bạn cần phải chạy marathon hay chạy vượt rào. Mục đích là để có được hoạt động và duy trì hoạt động bằng cách làm những điều bạn thích, từ làm vườn để chơi quần vợt đến đi chơi với bạn bè. Tự hỏi có bao nhiêu hoạt động bạn cần phải làm những gì và lựa chọn của bạn?
Dưới đây là một số ý tưởng để giúp bạn di chuyển và bắt đầu thực hiện một phần vận động cần thiết từ các thói quen hàng ngày của bạn.
  • Thiết lập mục tiêu thực tế: Sự kết hợp tập thể dục, lựa chọn đúng loại thực phẩm, và cắt giảm khẩu phần sẽ giúp bạn giảm thêm vài cân.
  • Mục tiêu nhỏ hơn tại một thời điểm: Mặc dù giảm cân sẽ là mục tiêu tổng thể của bạn, bạn sẽ có nhiều bước nhỏ để đạt được nó. Đặt một vài mục tiêu nhỏ hơn tại một thời điểm và không cố gắng để làm tất cả cùng một lúc. Phải mất thời gian để xây dựng thói quen mới và phá vỡ những cái cũ.
Hãy nghĩ về một hoặc hai điều bạn đã sẵn sàng, sẵn sàng và có khả năng thay đổi về cách bạn ăn và tập thể dục. Sau đó, đặt ra mục tiêu cho mỗi. Hãy xem xét ba điều:
1. Thói quen nào của bạn sẽ thay đổi? Thay đổi như thế nào? Phải cụ thể.
2. Bạn định thực hiện trong bao lâu?
3. Đừng cố gắng thay đổi quá nhiều cùng một lúc. Hãy thực tế.
Dưới đây là một số ví dụ về các mục tiêu bao gồm ba yếu tố:
Ăn Mục tiêu: Bốn ngày mỗi tuần (thời gian thực hiện thế nào ), tôi sẽ ăn một quả táo thay vì kem là món ăn buổi tối của tôi (thực tế và cụ thể).
Hoạt động thể chất mục tiêu: Năm ngày mỗi tuần (thời gian thực hiện thế nào), tôi sẽ có một 30 phút đi bộ trong giờ ăn trưa của tôi kể từ khi tôi không thực sự cần cả giờ ăn (thực tế và cụ thể).
Chế độ ăn uống là vô cùng quan trọng đối với người tiểu đường
Chú ý:  Mục tiêu ăn uống không phải là "tôi sẽ ăn nhiều trái cây" hay "Tôi sẽ ăn lành mạnh hơn." Mục tiêu hoạt động không phải là "tôi sẽ đi bộ nhiều hơn." Mục tiêu như thế là không đủ cụ thể.
Một khi bạn đặt ra mục tiêu cho mình, bạn cần bắt đầu thiết lập một kế hoạch để giúp bạn đạt được chúng.
Một nguồn tài nguyên hữu ích cho việc bắt đầu là cuốn sách của chúng tôi, bệnh tiểu đường giảm cân tại: http://www.shopdiabetes.org/1106-Diabetes-Weight-Loss-Week-by-Week.aspx?loc=settingrealisticgoals&source=dorg

Kế hoạch giảm cân của bạn

Bạn đã sẵn sàng để giảm cân? Bạn sẽ tăng cơ hội thành công bằng cách làm cho kế hoạch có thể đạt được.
Hãy nhớ để chọn một vài mục tiêu thực tế - có thể bắt đầu với một sự thay đổi trong chế độ ăn uống của bạn và một sự thay đổi hoạt động thể chất.
Hãy nhớ bình tĩnh thực hiện từng bước trong từng thời điểm nhất định.
Giảm cân lâu dài sẽ không xảy ra qua đêm! Thực hiện kế hoạch của bạn càng cụ thể càng tốt. Sử dụng đề cương dưới đây như một hướng dẫn.
Bây giờ Tôi đang ở đâu?
Ví dụ: Tôi nặng hơn trọng lượng mong muốn là 15kg. Đây là những gì tôi sẽ làm gì để bắt đầu làm việc hướng tới giảm cân:
1. Tôi sẽ đưa 30 phút đi bộ nhanh 5 ngày một tuần vào giờ ăn trưa.
2. Tôi sẽ chuyển sang chế độ ăn uống soda dành cho người ăn kiêng và nước thay vì uống soda thông thường và trà ngọt.
3. Dưới đây là khi nào tôi sẽ làm điều đó:
Ví dụ:
1 Trong tuần, tôi sẽ đi bộ 30 phút trong giờ ăn trưa của tôi.
2. Mỗi bữa ăn - và giữa.
4. Đây là những gì tôi cần phải chuẩn bị sẵn sàng:
Ví dụ:
1. Tôi sẽ cần giày đi bộ thoải mái.
2. Tôi sẽ cần phải mua nước sô-đa dành cho người ăn kiêng.
5. Nếu điều nào đó khác sảy ra trong kế hoạch của tôi, tôi sẽ làm gì thay thế:
Ví dụ:
1. Nếu trời mưa, tôi sẽ không thể đi bộ bên ngoài.
2. Tôi có thể hết nước soda chuyên dùng cho người ăn kiêng.
6. Nếu điều đó xảy ra, tôi sẽ làm điều này thay vì:
Ví dụ:
1. Tôi sẽ đi đến trung tâm giải trí và đi bộ xung quanh bên trong.
2  Tôi sẽ lên kế hoạch trước để đảm bảo rằng tôi không hết đồ ăn kiêng hoặc tôi có thể uống nước để thay thế.
7. Dưới đây là khi nào tôi sẽ bắt đầu:
Ví dụ: Tôi sẽ bắt đầu làm việc hướng tới cả hai mục tiêu vào hôm thứ Hai.
8. Đây là cách tôi sẽ thưởng cho bản thân mình (cố gắng tránh xa những phần thưởng có liên quan đến thực phẩm):
Ví dụ: Tôi sẽ đi xem phim nếu tôi đã theo sát được kế hoạch của tôi cho tháng tiếp theo.
9. Một khi bạn đã đạt được mục tiêu đầu tiên của bạn, thiết lập nhiều hơn nữa!
Ví dụ về các bước tiếp theo:
• Tôi sẽ đi bộ trong 40 phút thay vì chỉ 30 phút, 5 ngày một tuần.
• Tôi sẽ thay đổi bữa ăn nhẹ buổi chiều của tôi từ cookie để trái cây. 

**********

Vận động và bệnh nhân tiểu đường

Vận động là một phần của cuộc sống lành mạnh và quản lý bệnh tiểu đường. Bất kỳ loại hoạt động thể chất nào cũng sẽ giúp bạn làm giảm lượng đường trong máu của bạn.
Các lợi ích khác của hoạt động thể chất bao gồm:
Có nhiều năng lượng hơn
Giảm căng thẳng
Giữ khớp xương của bạn linh hoạt
Giảm nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ
Tập thể dụng và người tiểu đường
Cảm giác tuyệt vời
 Hãy nói chuyện với bác sĩ nếu bạn có thắc mắc về các hoạt động là phù hợp với bạn. Ví dụ về các loại khác nhau của hoạt động thể chất bao gồm:
Tập Earobic (đi bộ, đi xe đạp, bơi lội)
Là hoạt động suốt cả ngày (đi cầu thang thay vì thang máy)
Đào tạo sức mạnh (nâng tạ hoặc chống đẩy)
Bài tập linh hoạt (mền dẻo và yoga)


*********


Trong trước đây, chế độ ăn cho người bị tiểu đường là rất hạn chế.
Bây giờ khác. không có chuẩn nào phù hợp cho tất cả chế độ ăn uống bệnh tiểu đường. Bạn có thể cần phải thực hiện một số thay đổi trong những gì và bao nhiêu bạn ăn, bạn có thể linh hoạt trong việc quyết định những gì trên menu.
Với một kế hoạch nhỏ, bạn vẫn có thể bao gồm các loại thực phẩm yêu thích của bạn.
"Ăn uống lành mạnh" có nghĩa là gì?
• Ăn nhiều loại thực phẩm, bao gồm rau quả, ngũ cốc nguyên hạt, trái cây, thực phẩm từ sữa không có chất béo, chất béo lành mạnh, và thịt nạc hoặc thay thế thịt.
• Cố gắng không ăn quá nhiều thức ăn 1 lúc.
• Cố gắng không ăn quá nhiều một loại thực phẩm.
• Khoảng cách các bữa ăn của bạn phải đều đặn trong ngày.
• Không bỏ qua bữa ăn.
 Tạo đĩa ăn của bạn:
Điều đầu tiên bạn cần nghĩ đến khi bạn biết mình bị bệnh tiểu đường là gì? Hãy quan tâm đến “đĩa ăn” của bạn.
Bạn không cần bất kỳ công cụ đặc biệt và không cần phải làm bất cứ đếm. Bạn chỉ cần tập trung vào việc làm đầy đĩa của bạn với nhiều rau không tinh bột và các loại thực phẩm ít tinh bột và các loại thịt.
Tìm hiểu cách sử dụng phương pháp “đĩa ăn” tại:  http://www.diabetes.org/food-and-fitness/food/planning-meals/create-your-plate/
Sách dạy nấu ăn:
Đối với những người bị bệnh tiểu đường, một cuốn sách nấu ăn tốt cung cấp những ý tưởng để cắt chất béo từ chế độ ăn uống của mình và cho mức dinh dưỡng chi tiết trong mỗi công thức.
Hiệp hội bệnh tiểu đường Mỹ xuất bản sách dạy nấu ăn mới mỗi năm đầy những bí kíp, chúng đáp ứng các nguyên tắc dinh dưỡng bệnh tiểu đường của Hiệp hội.

**********

Các loại thảo dược giúp điều trị bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường là một căn bệnh phát triển rất nhanh. Phương pháp điều trị cho bệnh tiểu đường đang được phẫu thuật trong nhiều lĩnh vực y học khác nhau. Một vài trong số các phương pháp điều trị này đã được chứng minh là có tiềm năng lớn và một trong số đó là điều trị bằng thảo dược. Điều trị bằng thảo dược có thể giải quyết rất nhiều mặt của căn bệnh tiểu đường.
Hạt cari chữa tiểu đường
Lá cây ca-ri
Ăn từ 8 đến 10 lá cây ca-ri vào buổi sáng trong vòng khoảng 3 tháng.
Loại lá cây này có thể làm chậm căn bệnh đái tháo đường do gen. Nhờ vào đặc tính giảm cân của nó, lá cây ca-ri cũng phòng căn bệnh này do béo phì. Khi cân nặng được giảm, bệnh nhân tiểu đường dừng đi tiểu ra glu-cô-zơ.
Hạt cỏ cari
Dùng 2 thìa cà phê đầy hạt cỏ cari (dạng bột) mỗi ngày vào buổi sáng, có thể dùng kèm với sữa. Một cách khác để sử dụng là ngâm từ 10-12 hạt trong nước qua đêm và uống nước vào sáng hôm sau. Hạt cỏ cari thậm chí có thể giúp kiểm soát nồng độ đường huyết vô cùng cao.
Madhuca
Sắc vỏ cây Madhuca có thể điều trị bệnh tiểu đường bởi nó giúp làm giảm nồng độ đường huyết.
Tỏi
Nuốt một nhánh tỏi mỗi ngày vào buổi sáng. Các thành phần cấu thành lên tỏi đã được chứng minh một cách khoa học là có tác dụng làm giảm độ đường huyết.
Các loại thảo dược đóng một vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát và thậm chí chữa khỏi tiểu đường. Các loại thảo dược trên nếu như được sử dụng một cách phù hợp sẽ cho các kết quả rất tốt và đảm bảo

3 nhận xét:

  1. Hi vọng là thông tin có ích cho mọi người.

    Trả lờiXóa
  2. Khổ qua thóc: Giảm mỡ gan, mỡ máu, chữa Bệnh Tiểu Đường:
    Đối với bệnh nhân bị tiểu đường, nguy hiểm nhất là lipit máu (mỡ máu), nhiều bệnh nhân bị biến chứng gây tai biến, mặc dù kiểm tra đường huyết lúc đói vẫn ở mức an toàn. Người tiểu đường hay người bình thường sau khi ăn khoảng 3 giờ đường huyết phải trở lại mức bình thường mới tốt. Nếu sau 5-6 giờ đường huyết mới ổn định thì các nguy cơ tai biến xuất hiện rất cao.
    Hiện nay, Tây y đang dùng thuốc giảm mỡ máu cho người bị tiểu đường có gốc Statin, thuốc này dùng lâu dài sẽ gây xơ gan và ung thư gan, cùng các phản ứng phụ khác. Dùng khổ qua thóc vừa giúp giảm đường huyết lại giúp giảm cả mỡ máu rất nhanh. Khổ qua thóc có chất giống như Insulin, giúp chuyển hóa đường trong máu rất nhanh và hiệu quả với liều rất nhỏ. Dùng mỗi ngày 1-2 lần, chỉ cần dùng 1,5 gram khổ qua thóc sấy khô sau bữa ăn đã giúp hạ đường huyết.

    Trả lờiXóa